NIKKARI AOE – にっかり青江

I. Phân loại-Lịch sử
——————————————————————————————-

Loại kiếm : Oo-Wakizashi
Chiều dài : 60.3 cm
Trường/Phái kiếm: Bicchu Aoe
Nghệ nhân: Aoe Sadatsugu (青江貞次)
Thời kỳ : Kamakura (1185-1330)
Năm chế tác: 1207 CE
Chủ sở hữu (nổi tiếng nhất): Nakajima Shuuridayuu
Hiện được lưu giữ tại: Marugame Municipal Archives Museum, Kagawa prefecture.

Nikkari Aoe (full)

Nikkari Aoe (full)

Tương truyền rằng, Nikkari Aoe vốn là một thanh Tachi (Oodachi ?) với chiều dài 75cm, được thờ tự tại đền Hiyoshi Taisha – một trong tám đền hạ, nhóm 21 đền thần đạo Heian lớn nhất được xếp hạng trong tổng số hơn 4000 đền thờ trên khắp nhật bản.

Hiyoshi Taisha (日吉大社) thuộc Sakamoto, Otsu, Shiga Prefecture, thờ Ookuninushi (大国主/ Great Land Master) – vị thần cai quản thế giới vô hình, nắm giữ sức mạnh tâm linh và ma thuật, hình thành tạo vật thiên nhiên, nông nghiệp và thuôc men.

Hiyoshi Taisha (日吉大社)

Hiyoshi Taisha (日吉大社)

Thời kỳ Kamakura, hàng năm Hiyoshi Taisha tổ chức Lễ ban phước lành với sự xuất hiện của điệu múa Shirabyoushi (白拍子), nhằm cầu cho cây cối tốt tươi, đâm chồi nảy lộc, mùa màng bội thu.

Shirabyoushi (白拍子)

Shirabyoushi (白拍子)

Vũ công thể hiện điệu múa truyền thống trên, cũng được gọi là Shirabyoushi, bao gồm cả nam lẫn nữ (có khi cả trẻ em, nhưng phổ biến nhất vẫn là nữ giới). Những nữ vũ công, thường cải trang thành nam nhi, phục vụ trong các nghi lễ hoàng thất hoặc tầng lớp samurai có địa vị cao. Nghề Shirabyoshi xuất hiện từ thế kỷ thứ 12 tại Nhật. Dù mang cái tên hoa mỹ, nhưng thực tế trong xã hội cũ, các Shirabyoushi được coi là gái điếm cao cấp, do phần lớn họ đều ngủ với khách quen hoặc các vương tôn quý tộc, sau đó mang bầu và sinh ra những đứa trẻ mang dòng dõi hoàng gia. Một Shirabyoushi nổi tiếng trong lịch sử chính là Shizuka Gozen, người tình của anh hùng Minamoto no Yoshitsune.

Trang phục của họ bao gồm:

– Một chiếc mũ tate-eboshi, mặc bởi samurai
Một tachi, kiếm của samurai
– Hakama đỏ, mặc chủ yếu do nam giới
– Suikan trắng và suikan đỏ, trang phục Shinto nam
– Quạt kawahori

Shirabyoushi (白拍子)

Shirabyoushi (白拍子)

Theo cuốn “Những thanh kiếm nổi tiếng thời chiến quốc”, Nikkari Aoe được cho là thanh Tachi (Oodachi) sử dụng trong lễ ban phước Shirabyoushi, với vai trò thần kiếm. Đáng lẽ, Nikkari vẫn sẽ bình yên vai trò của nó tại thần điện cho đến khi một biến bất ngờ xaỷ ra.

Câu chuyện của Nikkari Aoe sau đó xuát hiện 3 phiên bản khác nhau, nhưng có nội dung khá tương đồng. Vì vậy trong khuôn khổ bài viết, tôi xin được trích dẫn câu chuyện được biết đến nhiều nhất, có xuất xứ từ Kyouhou Meibutsu Chou.

Thời Azuchi Momoyama (1568 -1600), người dân đồn đại về sự xuất hiện của một con quỷ trên núi Hachiman, thuộc quận Omi cũ (近江国 Ōmi no kuni, nay thuộc tỉnh Shiga-nơi đền Hiyoshi Taisha tọa lạc ) . Lời đồn nhanh chóng truyền đến tai lãnh chúa Nakajima Shuuridayuu. Để trấn an dân chúng, Ông quyết định cầm lấy thanh Oodachi Aoe sắc nhất của mình tiến về phía ngọn núi, nhằm tiêu diệt con quỷ hung dữ nọ.

Tới chân núi, trời cũng đã tối mịt. Cảm thấy có gì đó không ổn, Nakajima chăm chú quan sát con đường đen kịt và bất ngờ trông thấy bóng dáng một người phụ nữ, trong tay bế một hài nhi. Người phụ nữ nhìn vị lãnh chúa trân trối rồi nở một nụ cười đáng sợ.

Cô ta nhẹ nhàng đặt đứa trẻ xuống đất và nói “Hãy để lãnh chúa ẵm con nhé!”. Đứa trẻ nhổm dậy,chậm rãi bò về phía Nakajima Shuuridayuu. Một người phụ nữ bế theo một đứa trẻ sâu trong rừng, lại còn vào đêm tối! Chắc chắn đây là con quỷ, ông nghĩ. Vị lãnh chúa rút thanh kiếm ra nhắm thẳng hài nhi rồi chém. Đầu đứa trẻ rơi xuống đất, ngay lập tức, thân mình nó liền biến mất không dấu vết. Người phụ nữ một lần nữa nở nụ cười đáng sợ đó, cô ta thì thầm “Hãy ôm em đi!”, rồi lao về phía vị lãnh chúa. Nhanh như cắt, ông rút kiếm chém ả, khiến cô ta tan biến trong màn đêm.

Ngày tiếp theo, Nakajima quay lại nơi đã chạm trán người phụ nữ và đứa trẻ đêm hôm trước. Ông mong rằng có thể nhìn rõ những cái xác hơn trong ánh sáng ban ngày. Nhung những gì còn lại chỉ là 2 chiếc đèn đá (ishitourou) bị chém đứt đôi. Vị lãnh chúa cho rằng quỹ nữ cuối cùng cũng đã bị tiêu diệt. Nhớ lại nụ cười đáng sợ của người phụ nữ, ông quyết định đặt tên cho thanh Oodachi là Nikkari Aoe ( Nikkari có nghĩa là nụ cười đáng sợ (creepy grin).

Về chuyện chiều dài của Nikkari Aoe bị rút từ 75 xuống còn 60cm, nguyên nhân chính do thanh kiếm đã được Suriage (rút ngắn chuôi kiếm lại) khi Nikkari Aoe được chuyển quyền sở hữu từ Nakajima Shuuridayuu (hoặc là Kuridayuu) sang Shibata Katsuie.

Sau đó, trong trận Shizugatake, con trai Katsuie là Shibata Katsutoshi thua Niwa Nagahide (thuộc hạ của Toyotomi) , Niwa đoạt lấy Nikkari Aoe như chiến lợi phẩm rồi dâng tặng thanh kiếm cho Toyotomi Hideyoshi. Cuối cùng, Toyotomi tặng nó cho Kyougoku Takatsugu, rồi được lưu giữ tại gia đình Takatsugu trong suốt 7 thế hệ. Nikkari Aoe được đánh giá là một kiệt tác nghệ thuật mà bất cứ lãnh chúa nào cũng muốn sở hữu vì vẻ đẹp và lịch sử của nó.

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

Năm 1940, Nikkari Aoe được công nhận là Di Sản Nghệ thuật Quan Trọng (Juuyou Bijutsu Hin).Thế chiến II, Nikkari Aoe được mang tới thành phố Marugame. Cùng thời điểm đó ở Bảo tàng Quốc Gia Nhật Bản đã phân loại Nikkari Aoe là một Wakizashi (hoặc là Oowakizashi – một loại wakizashi dài hơn). Hiện tại lưỡi kiếm và koshirae (bao) đều đang được giữ tại Bảo tàng Thành phố Marugame. Tuy nhiên nguyên gốc Koshirae cổ đã được thay thế bằng bộ Koshirae mới bọc vàng Satin được sản xuất thời kỳ Edo.

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

Nikkari Aoe Replica (with Gold Satin Koshirae)

II. Liên hệ lịch sử – tạo hình:
———————————————————————————————

– Nikkari Aoe có mái tóc màu xanh đại diện cho màu xanh của Tsukaito ( dây cuốn cán kiếm), đai lưng và cổ boots đại diện cho nút thắt saya trên thân kiếm.

– Nikkari có đôi mắt hai màu, một màu vàng đại diện cho màu Satin Vàng trên bao kiếm, cùng một bên mắt đỏ đại diện cho “ mắt quỷ”.

– Dù là kiếm cổ từ thời Kamakura, nhưng trang phục của Nikkari là quân phục hiện đại, đại diện cho việc bộ Koshirae cổ đã được thay thế bằng bộ vỏ tân thời.

– Nikkari luôn cười nửa miệng, đúng như cái tên Evil Grin người ta đặt cho anh.

– Trong các lời thoại, Nikkari liên tục nhắc đến ma nữ, nụ cười lạnh của ả, và tiếng cười của đứa trẻ, tất cả gần như đã ám ảnh anh đến mức không thể xóa bỏ được.

– Thông thường khi bị thương, các thanh kiếm sẽ bị hư hại trang phục ( nói nôm na là rách áo quần), nhưng không mấy ai đề cập đến việc đó theo “nghĩa đen” như Nikkari:

へえ、僕に興味があるのかい?Ohh, so you’re interested in me?
僕を脱がせて、どうする気だい。What are you planning to do, making me undress?
寝込みを襲おうなんて…斬られても知らないよ. Attacking me while I’m in bed… don’t blame me if you get cut.

Nhiều câu nói nghe qua hơi khó nói, cũng một phần do Nikkari đã từng được các Shirabyoushi sử dụng khi tế lễ, và nghề này bản chất ra sao mình sẽ không nhắc lại nữa.

こういうことは、置物連中にやらせた方がいいんじゃないかい?
This kind of work… wouldn’t it better to leave it to the ceremonial swords?

Trong Recollection với Ishikirimaru, Nikkari đã hỏi Ishikiri – một thanh ngự thần kiếm cao cấp về việc tại sao mình không có tư cách để trở thành một thần kiếm, dù trong quá khư anh đã làm được rất nhiều điều. Ishikiri trả lời: cậu đã chém một hài nhi, cho dù nó có là ma quỷ. Chỉ riêng việc đó cũng đủ để Nikkari mất đi linh lực của mình, giống như việc phế truất một thanh thần kiếm khỏi vị trí vốn có của nó.

Ishikirimaru vs Nikkari Aoe in Touken Ranbu Only Event Exhibition

Ishikirimaru vs Nikkari Aoe in Touken Ranbu Only Event Exhibition

– Không chỉ có vậy, Nikkari còn bị thu ngắn, nên ko còn là một thanh Tachi (Oodachi) như trước nữa, đến bộ Koshirae cổ đại diện cho việc đã từng được sử dụng trong thần điện cũng bị thay thế. Phạm phải lỗi lầm giết chóc (dù không phải do anh gây ra) mà mất đi sức mạnh, Nikkari luôn hối hận vì những gì mình đã gây ra, nỗi buồn đó thể hiện rõ rệt nhất khi anh bị phá hủy trên chiến trường:

散々斬り殺してきたんだ…こういうこともあるさ…
Việc giết người tồi tệ, việc như vậy thực sự đã xảy ra ….

—————————————————————————-

Translate and edit by Hoàng Xuân Phương.
Với hỗ trợ dịch thuật bởi Nguyễn Hà TrangBeelze Yan

Using information of wikipedia.jp, wikipedia.com with personal writing of translator.

[Vui lòng ko share bài viết trên hoặc đăng lên các trang khác-bao gồm cả wiki vn khi chưa được phép. Xin trân thành cảm ơn]